Tra cứu thuốc chuẩn nhất
Bệnh Trẻ Em

Bệnh máu khó đông ở trẻ em và những biến chứng nguy hiểm

Bệnh máu khó đông ở trẻ em có thể chữa khỏi không? Bệnh có biến chứng nguy hiểm đến tính mạng của trẻ không? Hãy bảo vệ trẻ bằng cách phát hiện kịp thời.

Bệnh máu khó đông ở trẻ em khi bị thương sẽ không cầm được trong thời gian dài. Không chỉ vậy còn có thể gây ảnh hưởng tới các khớp và gây nguy hiểm tới tính mạng. Tuy nhiên, hoàn toàn có thể sống chung với bệnh này nếu tuân thủ một số cách điều trị hay giảm nhẹ triệu chứng từ bác sĩ.

Bệnh máu khó đông ở trẻ em là gì?

Máu khó đông ở trẻ em nói riêng và tất cả đối tượng nói chung là bệnh Hemophilia (loãng máu). Đây là một rối loạn chảy máu mang tính di truyền. Người mắc bệnh bị thiếu một số protein giúp đông máu được gọi là yếu tố đông máu. Có 13 loại yếu tố đông máu cùng nhau phối hợp với tiểu cầu, để giúp máu dễ đông các tế bào máu nhỏ được hình thành trong tủy xương.

Bệnh máu khó đông ở trẻ em do di truyền
Bệnh máu khó đông ở trẻ em do di truyền

Người mắc bệnh máu khó đông sẽ khó cầm máu hơn bình thường, dễ dẫn đến nguy cơ chảy máu quá mức. Tỷ lệ mắc phải bệnh máu khó đông ở trẻ em mới sinh là 1/10.000. Bệnh phổ biến gặp ở bé trai từ 3 tuổi trở lên. 

Bệnh máu khó đông không phổ biến. Tuy hiếm gặp nhưng khá nghiêm trọng, nguy cơ gây ra biến chứng đe dọa tới tính mạng của trẻ. Một số trường hợp bị máu khó đông có thể DO chảy máu tự phát, chảy máu trong, các khớp bị đau, sưng do chảy máu vào khớp. 

Bệnh máu khó đông được chia thành 3 dạng sau:

  • Dạng A (Hemophilia A): đây là dạng thường thấy nhất của bệnh máu khó đông. Nguyên nhân được cho là do thiếu hụt yếu tố đông máu VIII. Có khoảng 80% bệnh nhân mắc bệnh máu khó đông thuộc vào dạng A;
  • Dạng B (Hemophilia B): đây là dạng được xảy ra do thiếu yếu tố đông máu IX;
  • Dạng C (Hemophilia C): đây là dạng bệnh nhẹ do thiếu yếu tố đông máu XI. Trẻ em mắc bệnh máu khó đông dạng C thông thường không bị chảy máu do tự phát; chỉ xuất hiện chảy máu sau những chấn thương hoặc phẫu thuật.

Triệu chứng nhận biết bệnh máu khó đông ở trẻ em

Bệnh nhi có nguy cơ mắc bệnh sớm trong giai đoạn sơ sinh với những triệu chứng như chảy máu rốn, xuất hiện vết bầm dưới da, có hiện tượng xuất huyết não - màng não, tại các vết tiêm xảy ra tình trạng chảy máu kéo dài,...

Tự chảy máu thường xuyên là một trong những triệu chứng của bệnh
Tự chảy máu thường xuyên là một trong những triệu chứng của bệnh

Triệu chứng đối với trẻ em từ 2 tuổi trở lên là hiện tượng chảy máu thường xảy ra sau sang chấn như tiêm, đứt tay, nhổ răng, té ngã, phẫu thuật,... hoặc cũng có thể xuất huyết một cách tự nhiên. Bên cạnh đó trẻ còn có xuất hiện một số dấu hiệu như các vết bầm tím lớn, chảy máu cam thường xuyên, trong phân có máu, trong nước tiểu có máu, các khớp xương sưng phù và đau đớn,... Nơi dễ bị xuất huyết nhất sau sang chấn là khớp gối, san chấn có thể gây ra tình trạng tràn dịch, dính khớp, phản ứng màng xương,...

Các biến chứng của bệnh 

Mức độ nghiêm trọng của sự thiếu hụt yếu tố đông máu ảnh hưởng đến mức độ của bệnh. Đây là bệnh nguy hiểm đối với tính mạng, ngoài ra những biến chứng của bệnh cũng rất đa dạng. Dưới đây là một số biến chứng của bệnh máu khó đông gây nên:

  • Chảy máu bên trong;
  • Chảy máu thường xuyên do tổn thương khớp;
  • Các triệu chứng thần kinh do chảy máu trong não;
  • Nguy cơ cao mắc các bệnh nhiễm trùng như viêm gan khi truyền máu.

Chẩn đoán bệnh máu khó đông ở trẻ em

Thông qua xét nghiệm máu bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh máu khó đông. Bác sĩ sẽ từ tĩnh mạch của bệnh nhi lấy một mẫu máu nhỏ để đo lượng yếu tố đông máu có trong đó. Phân loại mẫu máu sau đó để xác định mức độ nghiêm trọng sự thiếu hụt của yếu tố đông máu, theo các mức độ như sau:

Chẩn đoán bệnh bằng xét nghiệm máu
Chẩn đoán bệnh bằng xét nghiệm máu
  • Máu khó đông ở mức độ nhẹ: yếu tố đông máu trong huyết tương từ 5 - 40%;
  • Ở mức độ trung bình: yếu tố đông máu có trong huyết tương từ 1 đến 5%;
  • Bệnh máu khó đông ở mức độ nặng: yếu tố đông máu có trong huyết tương dưới 1%.

Các phương pháp điều trị bệnh

Trẻ em mắc bệnh máu khó đông nếu không được điều trị kịp thời rất dễ dẫn đến tử vong. Từng dạng bệnh máu khó đông sẽ có phương pháp điều trị tương ứng hợp lý. Cụ thể như sau:

Điều trị bệnh bằng cách truyền huyết tương
Điều trị bệnh bằng cách truyền huyết tương
  • Hemophilia A: trường hợp này việc điều trị sẽ bằng hormone desmopressin. Khi tiêm vào tĩnh mạch, có tác dụng kích thích các yếu tố chịu trách nhiệm cho sự đông máu;
  • Hemophilia B: điều trị theo phương pháp này bằng cách truyền các yếu tố đông máu vào máu bệnh nhân. Yếu tố đông máu có thể được hiến tặng từ người khác hoặc từ nguồn nhân tạo;
  • Hemophilia C: điều trị bằng cách truyền huyết tương vào cơ thể người bệnh, điều này giúp ngăn chặn quá trình chảy máu nặng.

Trẻ em mắc bệnh đông máu có thể được áp dụng vật lý trị liệu để phục hồi chức năng nếu chảy máu do khớp bị tổn thương. Theo bác sĩ khuyến cáo, tuyệt đối không được sử dụng thuốc Aspirin cho bệnh nhi để giảm đau vì loại thuốc này chỉ làm tình trạng xuất huyết thêm nặng. Đồng thời, vì phải truyền máu và huyết tương nhiều lần dẫn đến việc bệnh nhi dễ mắc thêm bệnh tan huyết cấp do bất đồng nhóm máu, viêm gan B, nhiễm ký sinh trùng sốt rét,... Chính ví thế, cần sát sao theo dõi trẻ để phòng ngừa các bệnh này.

Phòng tránh nguy cơ mắc bệnh máu khó đông ở trẻ em

Bệnh máu khó đông thông thường được truyền từ bố mẹ sang con. Mặc dù không có biện pháp phát hiện trước trẻ có mắc bệnh máu khó đông hay không nhưng việc thụ tinh qua ống nghiệm có thể kiểm soát một phần nguy cơ mang gen bệnh. Trước khi thụ thai và sinh con để có biện pháp giảm nguy cơ mắc bệnh cho đời sau các cặp vợ chồng mang gen bệnh hoặc có người thân mang gen bệnh máu khó  đông nên thực hiện các tư vấn trước khi đưa ra các quyết định.

Bệnh máu khó đông ở trẻ em rất khó ngăn ngừa hoàn toàn bởi đây là bệnh di truyền. Tuy nhiên, nếu phát hiện và điều trị sớm; tình trạng sức khỏe của bệnh nhi sẽ được bảo vệ, hạn chế tối đa biến chứng không mong muốn.

TuThuoc24h