Tác dụng thuốc

Tên thuốc: Egilok
Đóng gói: Hộp 1 lọ 60 viên
Dạng bào chế: Viên nén
Chỉ định:
  • Viên nén metoprolol điều trị tăng huyết áp. Có thể dùng metoprolol riêng biệt hoặc kết hợp với thuốc chống tăng huyết áp khác.
  • Metoprolol điều trị dài hạn đau thắt ngực.
  • Metoprolol tiêm và viên được chỉ định điều trị người bệnh đã xác định hoặc nghi ngờ có nhồi máu cơ tim cấp ổn định về mặt huyết động, để làm giảm tử vong tim mạch. Metoprolol tiêm tĩnh mạch có thể bắt đầu điều trị ngay khi tình trạng lâm sàng người bệnh cho phép. Hoặc có thể bắt đầu điều trị trong vòng 3 đến 10 ngày sau khi xảy ra nhồi máu cơ tim cấp tính.
  • Metoprolol có thể dùng điều trị rất tốt bệnh suy tim độ trung bình hoặc độ nhẹ kháng trị với các phương pháp điều trị suy tim khác. Liều lượng phải rất thận trọng và tăng liều rất chậm.
  • Metoprolol được dùng điều trị loạn nhịp tim.
Hàm lượng:
  • Viên nén 50 mg, 100 mg metoprolol tartrat. Viên nén giải phóng chậm 50 mg, 100 mg, 200 mg metoprolol tartrat, metoprolol succinat.
  • Ống tiêm (metoprolol tartrat) 5 mg/5 ml. Mỗi ống tiêm chứa 45 mg natri clorid.
Liều lượng:

Metoprolol là thuốc được bào chế dưới dạng viên nén và viên giải phóng kéo dài. Viên nén thường được sử dụng 1-2 lần/ ngày ngày trong bữa ăn hoặc sau bữa ăn. Các viên giải phóng kéo dài thường được dùng 1 lần/ ngày. Nên dùng thuốc vào cùng một lhoảng thời gian mỗi ngày để tránh quên liều.Thực hiện theo các hướng dẫn trên nhãn thuốc một cách cẩn thận, và hãy hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ bất kỳ phần nào bạn không hiểu. Hãy dùng metoprolol đúng theo chỉ dẫn, không uống nhiều hơn hoặc ít hơn so với quy định của bác sĩ. Các viên giải phóng kéo dài cũng có thể được chia nhỏ ra rồi uống tuy nhiên không được nghiền nát chúng. Bác sĩ có thể bắt đầu với liều thấp và tăng dần liều của bạn. Metoprolol kiểm soát huyết áp cao đau thắt ngực chứ không chữa trị chúng. Có thể mất một vài tuần để bạn cảm thấy tác dụng của metoprolol. Tiếp tục dùng metoprolol ngay cả khi bạn cảm thấy tình trạng đã tốt hơn.

Thành phần: Metoprolol
Dược động học:

Sau khi uống, metoprolol tartrat được hấp thụ gần như hoàn toàn, nhưng khả dụng sinh học tương đối thấp (khoảng 40%) do sự chuyển hóa ban đầu. Nồng độ của thuốc trong huyết tương thay đổi trong phạm vi rộng (tới 17 lần), có lẽ do những khác biệt di truyền trong tốc độ chuyển hóa.

Metoprolol chuyển hóa mạnh bởi hệ thống monooxygenase ở gan, và chỉ 10% thuốc đã uống được đào thải dưới dạng không biến đổi trong nước tiểu. Nửa đời của metoprolol từ 3 đến 4 giờ.

Khả dụng sinh học toàn thân và nửa đời của metoprolol ở người bệnh suy thận không khác ở mức độ có ý nghĩa lâm sàng so với người bình thường. Do đó, thường không cần phải giảm liều đối với người bệnh suy thận mạn tính.

Tác dụng chẹn beta có ý nghĩa (được đánh giá bằng giảm tần số tim khi luyện tập) xuất hiện trong vòng 1 giờ sau khi uống, và thời gian kéo dài phụ thuộc vào liều. Sau khi tiêm truyền metoprolol trong thời gian 10 phút, đã đạt chẹn beta tối đa ở khoảng 20 phút.

Tác dụng chẹn beta tối đa tương đương giữa liều uống và tiêm tĩnh mạch ở tỷ lệ khoảng 2,5:1.

Dược lực:

Metoprolol là một thuốc đối kháng chọn lọc beta1 - adrenergic không có hoạt tính nội tại giống thần kinh giao cảm. Tuy nhiên tác dụng không tuyệt đối trên thụ thể beta1 - adrenergic nằm chủ yếu ở cơ tim và metoprolol khi dùng liều cao cũng ức chế cả thụ thể beta2 - adrenergic nằm chủ yếu ở hệ cơ phế quản và mạch máu.

Metoprolol không có những tính chất chủ vận - beta, và có rất ít tác dụng ổn định màng. Thuốc có tác dụng giảm lực co cơ và nhịp tim.

Nghiên cứu dược lý lâm sàng đã xác nhận tác dụng chẹn - beta của metoprolol ở người, như giảm tần số tim và lưu lượng tim lúc nghỉ và khi luyện tập, giảm huyết áp tâm thu khi luyện tập, ức chế nhịp tim nhanh gây bởi isoproterenol, và giảm nhịp tim nhanh thế đứng phản xạ.

Tính chọn lọc - beta1 tương đối được xác nhận, trên cơ sở metoprolol không có khả năng làm mất tác dụng gây giãn mạch của epinephrin trên thụ thể - beta2 ở người bình thường. Metoprolol làm chậm nhịp xoang và làm giảm dẫn truyền nút nhĩ - thất.

Metoprolol đã được chứng minh là một thuốc chống tăng huyết áp có hiệu lực khi dùng một mình hoặc kết hợp với thuốc lợi tiểu loại thiazid. Thuốc có hiệu lực chống tăng huyết áp như propranolol, methyldopa, và những thuốc lợi tiểu loại thiazid, và có hiệu lực bằng nhau ở tư thế nằm ngửa và đứng.

Do ngăn cản tác dụng làm tăng tần số tim, tăng huyết áp, tốc độ và mức độ co cơ tim của catecholamin, metoprolol làm giảm nhu cầu oxygen của tim ở mọi mức độ gắng sức, điều này làm cho thuốc có ích trong điều trị dài hạn chứng đau thắt ngực. Tuy nhiên, ở những người bệnh có suy tim, sự chẹn beta - adrenergic có thể làm tăng nhu cầu oxy do tăng độ dài sợi cơ thất trái và tăng áp lực buồng tim cuối tâm trương.

Mặc dù chẹn thụ thể beta - adrenergic có ích trong điều trị đau thắt ngực và tăng huyết áp, nhưng trong một số tình huống kích thích giao cảm là tối quan trọng. Ở người bệnh có tim bị thương tổn nghiêm trọng thì chức năng tâm thất thích ứng có thể dựa vào tác động của hệ giao cảm. Khi có blốc nhĩ - thất, chẹn beta có thể ngăn cản tác dụng cần thiết làm dễ dàng sự dẫn truyền của hoạt tính giao cảm. Chẹn beta2 - adrenergic dẫn đến co phế quản thụ động do cản trở hoạt tính gây giãn phế quản adrenergic nội sinh ở những người bệnh dễ bị co thắt phế quản, và cũng có thể cản trở tác dụng của thuốc giãn phế quản ngoại sinh ở những người bệnh này.

Metoprolol đã được chứng minh là một thuốc chống đau thắt ngực có hiệu quả, làm giảm số cơn đau thắt ngực và làm tăng sự chịu đựng đối với luyện tập, và không khác với propranolol trong điều trị đau thắt ngực.

Trong một nghiên cứu lâm sàng lớn (1.395 người bệnh được phân phối ngẫu nhiên), mù kép, có kiểm tra với placebo, đã chứng minh metoprolol làm giảm 36% tỷ lệ tử vong ở thời gian 3 tháng đối với những người bệnh nghi ngờ hoặc đã xác định là có nhồi máu cơ tim.

Số đăng kí: VN-15892-12
Nhà đăng ký: Egis Pharmaceuticals Public Ltd., Co.
Nhà sản xuất: Egis Pharmaceuticals Public Ltd., Co.
Nhóm sản phẩm: Thuốc chẹn beta1 - adrenergic; thuốc chống tăng huyết áp
Tương tác thuốc:

Tương tác dược động học và dược lực học đã quan sát thấy có giữa thuốc chẹn beta - adrenergic và những thuốc khác. Muối nhôm, cholestyramin và colestipol có thể làm giảm hấp thụ thuốc chẹn beta. Những thuốc như phenytoin, rifampin, phenobarbital, và cả hút thuốc lá, đều gây cảm ứng những enzym biến đổi sinh học ở gan, và có thể làm giảm nồng độ huyết tương của thuốc đối kháng beta - adrenergic do bị chuyển hóa mạnh. Cimetidin và hydralazin có thể làm tăng khả dụng sinh học của metoprolol do ảnh hưởng đến lưu lượng máu ở gan. Những thuốc đối kháng beta - adrenergic có thể làm giảm sự thanh thải của lidocain.

Những thuốc đối kháng beta - adrenergic và thuốc chẹn Ca2+ có tác dụng cộng trên hệ thống dẫn truyền ở tim. Tác dụng cộng trên huyết áp thường thấy giữa thuốc chẹn beta và thuốc chống tăng huyết áp khác. Tuy nhiên, indomethacin và thuốc chống viêm không steroid khác có thể đối lập với tác dụng chống tăng huyết áp của thuốc đối kháng beta - adrenergic.

Tác dụng phụ:

Metoprolol có thể gây ra các tác dụng phụ, phần lớn ở mức độ nhẹ và có tính nhất thời:

  • Thường gặp: Thần kinh trung ương: Mệt mỏi, chóng mặt, trầm cảm. Tim mạch: Nhịp tim chậm, thở nông, giảm huyết áp, giảm tuần hoàn ngoại biên (lạnh các chi). Da: Ngứa, ban, phản ứng quá mẫn. Dạ dày - ruột: Ợ nóng, ỉa chảy, khô miệng, đau bụng. Hô hấp: Thở khò khè, khó thở.
  • Ít gặp: Tim mạch: Suy tim, hiện tượng Raynaud. Dạ dày - ruột: Táo bón, buồn nôn.
  • Hiếm gặp: Toàn thân: Tăng tiết mồ hôi, Thần kinh trung ương: Ác mộng, trầm cảm, ảo giác.

Cách xử trí

Trong điều trị tăng huyết áp và đau thắt ngực với thuốc chẹn beta: Khi có dấu hiệu hoặc triệu chứng đầu tiên đe dọa suy tim, cần điều trị người bệnh với digitalis và/hoặc thuốc lợi tiểu. Phải theo dõi chặt chẽ các đáp ứng. Nếu suy tim tiếp diễn, mặc dù đã điều trị digitalis và thuốc lợi tiểu, phải ngừng dùng metoprolol. Khi ngừng metoprolol đã được dùng dài hạn trước đó, phải giảm liều dần dần trong thời gian 1 - 2 tuần và theo dõi cẩn thận người bệnh. Vì bệnh động mạch vành có tính phổ biến và có thể không nhận biết, cần chú ý không ngừng đột ngột liệu pháp metoprolol ngay cả với những người bệnh chỉ điều trị tăng huyết áp. Phải cẩn thận khi xử trí những người bệnh nghi ngờ có nhiễm độc tuyến giáp để tránh ngừng đột ngột thuốc chẹn - beta, vì có thể thúc đẩy cơn nhiễm độc xảy ra.

Trong điều trị nhồi máu cơ tim với thuốc chẹn - beta: Phải theo dõi cẩn thận tình trạng huyết động của người bệnh. Nếu suy tim xảy ra hoặc vẫn tồn tại mặc dù đã điều trị đầy đủ, phải ngừng metoprolol. Nếu tần số xoang giảm dưới 40 nhịp/phút, đặc biệt nếu kết hợp với dấu hiệu giảm lưu lượng tim, có thể tiêm tĩnh mạch atropin (0,25 - 0,5 mg). Nếu trị liệu với atropin không có hiệu quả, phải ngừng metoprolol và dùng thận trọng isoproterenol hoặc xem xét đặt máy tạo nhịp tim. Nếu xảy ra blốc tim, phải ngừng metoprolol và cân nhắc việc điều trị với atropin, isoproterenol hoặc đặt máy tạo nhịp tim. Nếu hạ huyết áp (huyết áp tâm thu 90 mm Hg), phải ngừng metoprolol và đánh giá cẩn thận tình trạng huyết động và mức độ thương tổn cơ tim của người bệnh. Áp dụng liệu pháp thích hợp truyền dịch, thuốc tăng co sợi cơ tim hoặc phương thức điều trị khác. Phải dùng metoprolol một cách thận trọng ở người bệnh suy giảm chức năng gan.

Chống chỉ định:
  • Trong điều trị tăng huyết áp và đau thắt ngực, metoprolol chống chỉ định đối với những người bệnh có nhịp tim chậm xoang, blốc tim lớn hơn độ I. Sốc do tim, và suy tim rõ rệt.
  • Trong điều trị nhồi máu cơ tim, metoprolol chống chỉ định đối với những người bệnh có tần số tim dưới 45 lần/phút; blốc tim độ II hoặc độ III; blốc tim độ I rõ rệt (khoảng P - R 0,24 giây; huyết áp tâm thu dưới 100 mm Hg; hoặc suy tim từ vừa đến nặng).

Lưu ý:

Những thông tin về thuốc chỉ mang tính chất tham khảo không được xem là toa thuốc.

Mọi vấn đề liên quan tuthuoc24h sẽ không chịu trách nhiệm. Mong mọi người chú ý.