Navacarzol - Tác dụng thuốc và các thông tin khác đầy đủ nhất
Tra cứu thuốc chuẩn nhất

Navacarzol

Tra cứu thông tin về thuốc Navacarzol trên Tủ thuốc 24h, bao gồm: công dụng, liều lượng, tác dụng phụ, tương tác thuốc...

Thông tin cơ bản thuốc Navacarzol

Số đăng ký

VN-5608-08

Nhà sản xuất

Alfa Intes Industria Terapeutica Splendore S.R.L

Dạng bào chế

Viên nén

Quy cách đóng gói

Chai 100 viên

Thành phần

Carbimazol

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén 5mg, 10mg và 20mg.

Điều kiện bảo quản

Viêm carbimazol được để trong đồ bao gói kín, bảo quản ở nhiệt độ thường 15-30oC, tránh ẩm và tránh ánh sáng.

Chỉ định/Chống chỉ định

Chỉ định

  • Điều trị triệu chứng cường giáp (kể cả bệnh Gaves-Basedow).
  • Điều trị trước khi phẫu thuật tuyến giáp do cường giáp, cho tới khi chuyển hoá cơ bản bình thường, để đề phòng cơn nhiễm độc giáp có thể xảy ra khi cắt bỏ tuyến giáp bán phần.
  • Điều trị bổ trợ trước và trong khi điều trị iod phóng xạ (131I) cho tới khi liệu pháp này có tác dụng loại bỏ tuyến giáp.
  • Điều tị cơn nhiễm độc giáp (nhưng propylthiouracil thường được chỉ định hơn) trước khi dùng muối iod. Thường dùng đồng thời với thuốc chẹn beta, đặc biệt khi có các triệu chứng tim mạch (Ví dụ nhịp tim nhanh).

Chống chỉ định

  • Ung thư tuyếp giáp phụ thuộc TSH.
  • Suy tuỷ, giảm bạch cầu nặng.
  • Suy gan nặng.
  • Mẫn cảm với carbimazol hoặc các dẫn chất thioimidazol như thiamazol.

Liều dùng và cách dùng

Carbimazol có tác dụng ngăn chặn quá trình tổng hợp hormon giáp, giảm lượng hormon giáp vào tuần hoàn, do đó, làm giảm tình trạng nhiễm độc giáp.

Carbimazol không thể điều trị được nguyên nhân gây cường giáp, vì vậy, nếu sau khi dùng thuốc được 12 đến 18 tháng ( thường dưới 24 tháng) mà tình trạng nhiễm độc giáp vẫn còn thì phải cắt bỏ giáp hoặc dùng iod phóng xạ.

Liều khởi đầu cho người lớn là 15-40mg, có thể dùng đến 60mg mỗi ngày, tuỳ theo cường giáp nhẹ, vừa hoặc nặng. Thường chia làm 3 lần uống, cách nhau 8 giờ vào bữa ăn. Nhưng cũng có thể dùng 1-2 lần trong một ngày.

Carbimazol thường cải thiện được triệu chứng bệnh sau 1-3 tuần, và chức năng tuyến giáp sẽ trở lại bình thường sau 1-2 tháng. Khi hoạt động của tuyến giáp của người bệnh trở laị bình thường thì giảm liều dần, cho đến liều thấp nhất và vẫn giữ được chức năng tuyến giáp bình thường. Thông thường, liều duy trì là 5-15mg mỗi ngày tuỳ theo người bệnh.

Khi điều chỉnh để được duy trì, cần chú ý: Nếu dùng liều duy trì thấp quá,  cường giáp lại xuất hiện hoặc tiến triển càng nặng lên; nếu liều duy trì cao quá, sẽ làm giảm năng giáp, tăng TSH, tăng thể tích bướu giáp.

Thời gian điều trị thường là 12-18 tháng.

Trẻ em dùng liều khởi đầu 0,25mg/kg mỗi lần, ngày 3 lần; sau đó điều chỉnh liều tuỳ theo đáp ứng lâm sàng.

Sau một thời gian dài điều trị, khi thấy các biểu hiện lâm sàng giảm, xác định hàm lượng các hormon giáp, nếu ngừng thuốc mà bệnh tái phát, phải dùng thuốc trở lại, hoặc điều trị bằng phương pháp khác.

Thận trọng

  • Phải có thầy thuốc chuyên khoa chỉ định sử dụng và theo dõi trong suốt quá trình điều trị.
  • Cần theo dõi số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu trước khi bắt đầu điều trị, và hàng tuần trong 6 tháng đầu điều trị vì có thể xảy ra suy tuỷ, giảm bạch cầu nặng, nhất là người bệnh cao tuổi hoặc dùng liều từ 40 mg mỗi ngày trở lên.
  • Theo dõi thời gian prothrombin trước và trong quá trình điều trị nếu thấy xuất huyết, đặc biệt là trước phẫu thuật.
  • Phải hết sức thận trọng khi dùng carbimazol cho người đang dùng các thuốc đã biết là dễ gây mất bạch cầu hạt.

Tương tác với các thuốc khác

  • Với aminophylin, oxtriphylin, theophylin, glycosid trợ tim, thuốc chẹn beta: Khi cường giáp, sự chuyển hoá các thuốc này tăng lên. Dùng carbimazol, nếu tuyến giáp trở về bình thường, cần giảm liều các thuốc này.
  • Với amiodaron, iodoglycerol, iod hoặc kali iodid: các thuốc có iod làm giảm đáp ứng của  cơ thể với carbimazol, vì vậy phải dùng tăng liều carbimazol (amiodaron có 37% iod).
  • Với thuốc chống đông dẫn chất coumarin hoặc indandion: Carbimazol có thể làm giảm prothrombin huyết, nên làm tăng tác dụng của các thuốc chống đông uống. Do đó, cần điều chỉnh liều thuốc chống đông dựa vào thời gian prothrombin.
  • Iod phóng xạ 131I: Thuốc kháng giáp có thể làm tuyến giáp giảm hấp thu 131I; hấp thu 131I có thể tăng trở lại sau khi ngừng đột ngột thuốc kháng giáp 5 ngày.

Tác dụng phụ

Tỷ lệ chung tác dụng không mong muốn là 2 – 14%, nặng dưới 1%. Tai biến xảy ra phụ thuộc vào liều dùng, và thường xảy ra trong 6 – 8 tuần đầu tiên.

  • Thường gặp, ADR > 1/100
    • Da: dị ứng, ban da, ngứa (1 – 4%).
    • Tiêu hoá: Buồn nôn, nôn, rối loạn tiêu hoá.
    • Máu: giảm bạch cầu thường nhẹ và vừa. Nhưng khoảng 10% người bệnh cường giáp không điều trị, bạch cầu thường giảm còn dưới 4000/mm3.
    • Toàn thân: Nhức đầu, sốt vừa và thoáng qua.
  • Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100
    • Máu: suy tuỷ, mất bạch cầu hạt (0,03%, có tái liều 0,7%) biểu hiện là sốt nặng, ớn lạnh, nhiễm khuẩn họng, ho, đau miệng, giọng khàn. Thường xảy ra nhiều hơn nếu là người cao tuổi hoặc dùng liều cao.
    • Giảm prothrombin huyết, gây thiếu máu tiêu huyết.
    • Cơ xương khớp: đau khớp, viêm khớp, đau cơ.
    • Da: rụng tóc, hội chứng kiểu luput đỏ.
  • Hiếm gặp, ADR < 1/1000
    • Gan: vàng da ứ mật, viêm gan.
    • Thận: nhức đầu, sốt nhẹ, mất vị giác, ù tai, giảm thính lực.
    • Chuyển hoá: dùng liều cao và kéo dài có thể gây giảm năng giáp, tăng thể tích bướu giáp.

Dược động học/Dược lực

Dược động học

Carbimazol hấp thu nhanh (15 – 30 phút) qua đường tiêu hoá sau khi uống. Trong cơ thể, carbimazol được chuyển hoá nhanh và hoàn toàn thành thiamazol. Trong máu, thường chỉ xác định được thiamazol, không xác định được carbimazol. Do đó, dược động học của carbimazol chỉ khác thiamazol ở giai đoạn chuyển từ carbimazol thành thiamazol. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được trong vòng 1 – 2 giờ sau khi uống.

Thuốc tập trung nhiều vào tuyến giáp. Thể tích phân bố là 40 lít. Thuóc liên kết với protein trong huyết tương không đáng kể. Thiamazol (chất chuyển hoá có hoạt tính của carbimazol) qua được hàng rao nhau thai và tiết được vào sữa mẹ với nồng độ bằng nồng độ trong huyết tương của mẹ.

Nửa đời thải trừ khoảng 5 – 6 giờ. Nửa đời thải trừ có thể tăng khi bị suy gan hoặc suy thận.

Thuốc được thải trừ qua nước tiểu khoảng 80% liều dùng dưới dạng các chất chuyển hoá, khoảng 7% ở dạng thiamazol, không thấy dạng carbimazol.

Dược lực

Carbimazol là một thuốc kháng giáp, dẫn chất thioimidazol (imidazol có lưu huỳnh). Trong cơ thể, carbimazol bị chuyển hoá nhanh và hoàn toàn thành thiamazol, vì thế, cơ chế tác dụng của carbimazol cũng là cơ chế của thiamazol. Thuốc ức chế tổng hợp hormon giáp bằng cách ngăn cản iod gắn vào gốc tyrosyl của thyroglobulin, và cũng ức chế sự kết hợp hai gốc iodotyrosyl thành iodothyronin. Thuốc không ức chế tác dụng của hormon giáp đã hình thành trong tuyến giáp hoặc có trong tuần hoàn, không ức chế giải phóng hormon giáp đưa từ ngoài vào. Do đó, carbimazol không có tác dụng trong nhiễm độc do dùng quá liều hormon giáp.

Nếu tuyến giáp có nồng độ iod tương đối cao (do dùng iod từ trước hoặc do dùng oid phóng xạ với mục đích chẩn đoán), thì cơ thể sẽ đáp ứng chậm với thuốc.

Carbimazol không chưa được nguyên nhân gây ra cường giáp và thường không được dùng kéo dài để điều trị cường giáp.

Nếu dùng carbimazol liều cao và thời gian dùng quá dài, dễ gây giảm năng giáp. Nồng độ hormon giáp làm cho tuyến yên tăng tiết TSH (thyreostimulating hormone). TSH kích thích lại sự phát triển tuyến giáp, có thể gây ra bướu giáp. Để tránh hiện tượng này, khi chức năng giáp đã trở về bình thường, phải dùng liều thấp vừa phải, để chỉ ức chế sản xuất hormon giáp ở một mức độ nhất định, hoặc kết hợp dùng hormon giáp tổng hợp như levothyroxin, để tuyến yên không tăng tiết TSH.

Khác với thuốc kháng giáp thuộc dẫn chất thiouracil (benzylthiouracil, propylthiouracil, methylthiouracil), carbimazol không ức chế sự khử iod của thyroxin ở ngoại vi thành triiodothyronin (tác dụng của triiodothyronin mạnh hơn nhiều so với thyroxin). Do đó, trong cơn nhiễm độc giáp prothylthiouracil thường được ưa dùng hơn.

Quá liều và cách xử trí

Dùng liều cao và kéo dài carbimazol sẽ gây ra rất nhiều tai biến như đã nêu ở phần tác dụng không mong muốn, nhưng mức độ năng hơn. Nhưng nghiêm trong nhất là suy tuỷ, mất bạch cầu hạt; đặc biệt có thể dẫn đến tăng TSH, giảm năng tuyến giáp, tăng thể tích bướu giáp.

Cần chăm sóc bằng các biện pháp y tế, điều trị triệu chứng, có thể phải dùng kháng sinh hoặc corticoid, truyền máu nếu suy tuỷ và giảm bạch cầu nặng.

Khác

Hướng dẫn cách xử trí ADR:

  • Khi thấy đau họng, nhiễm khuẩn, ban da, sốt, ớn lạnh, người bệnh phải đến thầy thuốc kiểm tra huyết học. Nếu thấy mất bạch cầu hạt, suy tuỷ, phải ngừng điều trị, chăm sóc, điều trị triệu chứng và có thể phải truyền máu.
  • Vàng da ứ mật, viêm gan thường hiếm; nhưng nếu sảy ra, phải ngừng thuốc ngay, vì đã thấy có tử vong. Đau cơ nhiều, phải xét nghiệm creatin phosphokinase; nếu tăng nhiều, phải giảm liều hoặc ngừng thuốc.
  • Khi có độc tính với tai, phải ngừng carbimazol và thay bằng benzylthiouracil hoặc propylthiouracil. Ban ngứa, dị ứng, có thể khắc phục bằng cách dùng thuốc kháng histamin mà không cần ngừng thuốc. Có thể thay carbimazol bằng thuốc thiouracil kháng giáp.